Tại chùa, chúng ta ngồi thiền ở thiền đường.
Nhiều chùa chỉ có Phật đường mà không có thiền đường, và Phật đường cũng được
sử dụng làm thiền đường. Từ đầu thế kỷ thứ ba, thiền sư Tăng Hội đã bắt đầu dạy
thiền ở nước ta rồi, chùa chiền ở nước ta do đó đều đã thực tập thiền. Chùa có
khi cũng gọi là Chiền. Chữ Chiền chắc là từ chừ Thiền mà ra. Ta cũng gọi chùa
là chữ Thiền, hay là Thiền môn nữa. Tới giờ ngồi thiền, ta nghe ba tiếng chuông
báo hiệu. Biết đã tới giờ thiền tọa, ta nhiếp niệm, theo dõi hơi thở, đứng dậy,
đi rửa mặt rồi khoác áo dài. Áo quần cần phải rộng để ta ngồi thiền cho thoải
mái. Ta làm tất cả mọi cử động ấy (đi, đứng, rửa tay, mặc áo v.v….) một cách
ung dung, thong thả, im lặng, vẫn nhiếp tâm và theo dõi hơi thở, ta tiến về
phía thiền đường. Bức vào thiền đường, ta thấy không khí thanh tịnh và êm mát,
ta thầm đọc bài kệ sau đây:
Vào thiền đường
Thấy chân tâm
Một ngồi xuống
Dứt trầm luân
Ta chắp tay búp sen, nghiêng mình làm lễ các Bụt
và Tổ, rồi thong thả đi đến chỗ ngồi đã được chỉ định. Chắp tay làm lễ tọa cụ
(gối ngồi) ta thầm đọc bài kệ:
Ngồi đây ngồi cội bồ đề
Vững thân chánh niệm không hề lãng xao
Và ta ngồi xuống.
Lúc này, ba hồi chuông bảo chúng đang được vọng
lên khoan thai. Ta có thể vừa theo dõi tiếng chuông, vừa chỉnh đốn thế ngồi. Ta
ngồi quay mặt vào vách Thiền đường. Ta kê tọa cụ (gối ngồi) thế nào để cho thế
ngồi của ta vững vàng và toàn thân ta thấy thoải mái. Ta có đủ thì giờ để điều
thân nghĩa là để đi tới một thế ngồi vững chãi và an lạc, bởi vì ba hồi chuông
đang được thỉnh một cách rất khoan thai. Chiếc gồi ngồi cuả ta phải đừng thấp
quá cũng đừng cao qua thì ta mới đạt tới thế ngồi ta muốn. Do đó ta phải chọn
trước gối ngồi của ta.
Bạn ngồi theo tư thế hoa sen (kiết già) hoặc nửa
hoa sen (bán già). Trong tư thế hoa sen, bàn chân phải đạt trên bắp chân và bàn
chân trái đặt trên bàn chân phải, hoặc ngược lại. Trong tư thế nửa hoa sen, bàn
chân phải đặt trên bắp chân trái, hay ngược lại. Sống lưng bạn thẳng, nhưng
không cứng, mắt bạn có thể mở và nhìn về phía trước chừng một thước tây. Nếu
mới tập ngồi, bạ nên nhờ người khác nhìn tư thế ngồi cuả bạn và cho bạn biết
thế ngồi đó đã đúng và đẹp chưa, lưng có thẳng không, vai có ngang nhau không
và đầu có ngả về sau hoặc chúi về trước không. Bàn tay mặt đặt thoải mái trên
bàn tay trái, hoặc ngược lại. Bạn buông thả hết tất cả các bắp thịt trong toàn
thân bạn. Chỉ cần giữ cho sống lưng thẳng và duy trì chánh niệm theo hơi thở ra
vào mà thôi.
Điều chỉnh xong thế ngồi, ta thầm đọc bài kệ điều
thân sau đây:
Trong tư thế kiết già
Đóa hoa nhân phẩm nở
Hoa Ưu Đàm muôn thuở
Vẫn tỏa ngát hương thơm
Tư thế ngồi thiền là một trong những tư thế đẹp
nhất của con người. Ngày xưa Bụt Thích Ca Mâu Ni đã đạt tới nhân phẩm cao nhất
của con người trong thế ngồi đó dưới cội cây bồ đề.
Điều chỉnh thế ngồi xong, ta xoay sang điều chỉnh
hơi thở. Ta thở ra cho không khí trong phổi ra hết rồi bắt đầu thực tập bài kệ
sau đây:
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời
Trong khi thở vào, ta để hết tâm ý vào hơi thở.
Hơi thở cần nhẹ nhàng, khoan thai và liên tục như một dòng nước nhỏ chảy trong
cát mịn. Hơi thở càng nhẹ nhàng bao nhiêu thì thân tâm của ta càng dễ thanh
tịnh bấy nhiêu. Hơi thở ấy gọi là hơi thở tinh tế, khác với hơi thở gấp rút,
hổn hển và đứt quãng mà gọi là hơi thở thô phù. Hơi thở tinh tế làm cho thân
tâm lắng dịu và dễ trở thành tinh tế. Đây là điều kiện để có an lạc cho thân
tâm và có chánh niệm. Trong khi thở vào như thế, ta biết là ta đang thở vào, ta
thấy hơi thở ta đang đi vào trong từng tế bào của cơ thể ta đem đến sự an lạc
trong từng tế bào ấy. Không khí ta thở vào không phải chỉ đi tới phổi; dưỡng
khí lọc máu và thật sự đi theo máu về tận các tế bào trong cơ thể. Trong khi
thầm đọc câu “thở vào tâm tĩnh lặng”, ta thấy thanh khí đi vào
trong ta, làm tĩnh lặng và an lạc từng tế bào của cơ thể ta. Trong lúc trời
nóng nực, uống vào một ly nước đá chanh, ta thấy như nước đi tới đâu thì ruột
gan ta mát rượi tới đó. Khi thở vào ta cũng thấy hơi thở ta đang đem lại sự
thanh tịnh an lạc cho từng tế bào của cơ thể ta. Hơi thở làm an lạc cho cả thân
cả tâm; tuy nói tâm tĩnh lặng nhưng ta đừng phân biệt tâm với thân; ta hãy cho
tâm với thân là một bởi vì trong thiền tập, thân với tâm quả là một (thân tâm
nhất như) (Nói như vậy, nhưng bạn đừng vội bị lôi cuốn theo những lý luận triết
học như thân chỉ là tâm hoặc tâm chỉ là thân v.v…)
Thở được một hơi vào như thế bạn đã thấy an lạc
và thanh tịnh rồi, cho nên khi thở ra, bạn đã có thể mỉm cười. Bạn thở ra, cũng
nhẹ nhàng, cũng khoan thai, cũng liên tục trong khi miệng mỉm cười. Bạn thở tới
đâu thì biết tới đó, và bạn thầm đọc câu thứ hai của bài kệ: Thở ra miệng
mỉm cười.
Bạn phải mỉm cười thật sự, dù nụ cười của bạn rất
nhẹ. Trên mặt ta, có hàng trăm bắp thịt nhỏ. Khi ta mỉm cười, các bắp thịt ấy
tự khắc thư giãn lại, hệ thần kinh cũng thư giãn lại, và ta cảm thấy thoải mái
an lạc. Các nhà khoa học đều đồng ý với nhau về điểm này. Khi ta an lạc, ta mỉm
cười, và khi ta mỉm cười, ta được an lạc. Pho tượng nào diễn tả được nụ cười
nhẹ nhàng và an lạc của Bụt là một pho tượng thành công. Nếu may mắn, bạn có
thể thỉnh được một pho tượng Bụt như thế để về thiết trí phòng Tĩnh Tâm của
bạn.
Đời sống mới đầy dẫy những lo âu và bạn ít có dịp
để mỉm cười. Áp lực của đời sống hàng ngày và những lo âu và bực dọc thường làm
cho bắp thịt và thần kinh căng thẳng lại. Nếu không tập khoan thư thần kinh
bằng cách ngồi thiền, đi thiền, thở và mỉm cười thì tình trạng có thể trở thành
nguy hiểm. Nếu không giữ gìn, sẽ có ngày bạn phải dùng đến thuốc an thần và đi
bác sĩ chuyên trị tâm thần. Trong nước cũng vậy mà ngoài nước cũng vậy. Đã có
rất nhiều đồng bào lâm vào tình trạng này. Thiền tập trở thành một phép sống
cần thiết cho hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình và an lạc xã hội. Nếu bạn
thấy mỉm cười là một việc khó làm, thì đó là tình trạng đã trở nên nghiêm trọng
rồi đấy. Có một người nói:”Đời tôi đau khổ như vậy, làm sao tôi có thể mỉm
cười?”. Tôi trả lời: “Ta phải mỉm cười với sự đau khổ của chính ta”. Hãy nhìn
nụ cười trên môi Bụt. Bụt là người tỉnh thức, thấy được tất cả những đau khổ
của mọi loài. Vậy tại sao Bụt còn cười? Theo tôi, Bụt biết khóc mà cũng biết
cười. Bởi vì nếu không biết cười thì làm sao Bụt có thể đối phó với khổ đau,
khổ đau của chính mình và khổ đau của muôn loài? Có phải chúng ta chỉ có thể
chia sẻ sự an lạc cho kẻ khác khi chính ta có sự an lạc trong lòng?
Để chiến thắng và vượt qua những đau khổ của
chính mình, chúng ta chỉ có nụ cười của chúng ta mà thôi.
Trong một khóa tu học tổ chức tại thiền viện San
Francisco, tôi gặp một thiếu phụ Hoa Kỳ đang có mang một em bé. Chị cũng tham
dự khóa tu. Chị hỏi: Khi mình buồn thì làm sao mình cười được? Tôi trả lời :
“Nếu chị không cười thì em bé trong bụng chị sẽ lãnh đủ”. Người thiếu phụ giật
mình. Chị thấy cười là một bổn phận. Để cho khổ đau chôn vùi đời sống hàng ngày
của mình tức là làm hại tới em bé, làm hại tới thế hệ tương lai. Ta hãy cười
đi, rồi ta sẽ xây dựng lại đời sống.
Đêm ấy trong giờ thiền tọa, tôi thấy mỗi người
trong chúng ta, đàn ông hay đàn bà, trẻ em hay người lớn đều có mang một bào
thai trong mình. Đó là bào thai của một đức Bụt chưa sinh: “Tất cả chúng sanh
đều có Phật tính, tất cả chúng sanh đều là Phật sẽ thành”. Đó là giáo lý của
đạo Bụt đại thừa. Nếu chúng ta không cười, nếu chúng ta để khổ đau và phiền não
chôn chặt và đè nặng trên chúng ta, đó là chúng ta làm mất cơ hội của bào thai
Bụt trong ta. Mỗi chúng ta là một hoàng hậu Magia; mỗi chúng ta đều có trách
nhiệm.
“Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười”,
hai câu đầu của bài kệ được bạn sử dụng trong khi thở vào và thở ra. Bạn có thể
thực tập với hai câu này trong năm mười phút. Rồi bạn thực tập đến hai câu kế
tiếp.
“An trú trong hiện tại” là câu thứ ba của bài kệ.
Trong khi thở vào, bạn biết là thân bạn cũng như tâm bạn đang có mặt tại đây và
trong giờ phút hiện tại. Sống tức là sống trong giờ phút hiện tại, bởi vì chỉ
hiện tại mới có thực còn quá khứ và vị lai chỉ là những bóng ma. Trong kinh
Người biết sống một mình, Bụt nói: “Đừng nghĩ tới quá khứ, đừng tưởng tới
tương lai: quá khứ thì không còn, tương lai thì chưa tới. Kẻ thức giả an trú,
vững chãi và thảnh thơi trong giờ phút hiện tại”. Trở về với giờ phút hiện
tại tức là trở về với sự tỉnh thức, tức là để tính Bụt phát hiện trong ta: Bí
quyết của thiền tập là trở về với giây phút hiện tại và biết những gì xảy ra
trong giây phút hiện tại, trước hết là trong thân tâm mình và sau nữa là trong
hoàn cảnh mình.
Biết bao nhiêu người trong chúng ta không có khả
năng sống trong hiện tại. Nếu họ không ngồi tiếc nuối quá khứ thì họ chỉ lo lắng
cho tương lai. Họ không sống, họ chỉ chuẩn bị để sống.
Khi chưa học xong thì họ tự hẹn học xong có bằng cấp thì mới thực sự sống. Khi
ra trường rồi, họ cũng chưa sống, bởi vì họ nghĩ là họ cần phải có công ăn việc
làm trước đã. Rồi chạy theo xe, theo nhà, theo gia thất, theo sự nghiệp, họ gia
hạn thời gian chuẩn bị sống của họ mãi cho đến giờ phút chót của cuộc đời, và
không lúc nào họ thực sự sống cả.
Tìm được an lạc trong giờ phút hiện tại, thấy
cuộc đời là mầu nhiệm, sống trọn vẹn được giây phút hiện tại, đó là tác dụng
của hơi thở vào “an trú trong hiện tại”. Câu thứ tư của bài kệ “giờ phút đẹp
tuyệt vời” để dành cho hơi thở ra, soi rõ thêm tính cách mầu nhiệm của giây
phút hiện tại. Giây phút này là đẹp tuyệt vời bởi vì nó là giây phút duy nhất
có thật. Chỉ có giây phút hiện tại là có thật. Chỉ có giây phút hiện tại là
miên viễn. Ta chỉ có giây phút ấy để sống và để tỉnh thức mà thôi.
Trong lúc thực tập hai câu này của bài kệ, nếu
muốn duy trì nụ cười thì bạn cứ duy trì, bạn có thể thực tập hai câu này riêng
biệt trong năm hay mười phút. Bạn cũng có thể thực tập của bài kệ bốn câu liên
tục với nhau. Xin nhớ mỉm cười, ít nhất là trong khi thực tập câu thứ hai. Nụ
cười ấy không phải chỉ để riêng cho sự an lạc của bạn. Thế giới cũng được thừa
hưởng nụ cười ấy.
Phương pháp vừa chỉ dẫn có thể đưa bạn đến thanh
tịnh và an lạc ngay trong giờ phút thực tập. Yếu chỉ của thiền nằm trong hai
phần chỉ và quán. Chỉ là chấm dứt tình trạng tạp
loạn của thân và của ý. Chỉ là tình trạng chuyên nhất và tập trung. Vì vậy chỉ
còn gọi là định. Quán là nhìn cho kỹ để thấy cho rõ. Trong khi
thực tập bài kệ trên đây, bạn nhìn và thấy được rằng sự thanh tịnh của tâm ý
trong giây phút hiện tại là quan trọng nhất và quý hóa nhất, vì vậy bạn vừa có
chỉ vừa có quán. Chỉ là điều kiện cần thiết để đưa tới quán, và quán giúp cho
chỉ càng lúc càng vững chãi. Hơi thở là phương tiện duy trì chỉ và quán.
Có nhiều phương pháp thực tập chỉ và quán nương
theo hơi thở, nhưng chúng ta sẽ đề cập tới sau. Ở đây chúng ta chỉ biết nên
biết rằng bước đầu của thiền tập là làm cho thân tâm thư thái và an lạc. Nếu có
an lạc, bạn sẽ nở như một bông hoa; sự có mặt của bạn sẽ dễ chịu đối với người
xung quanh, trong gia đình và ngoài xã hội. Trên căn bản đó bạn sẽ đi sâu hơn
trên đường thiền tập.
Sau khi ngồi và thực tập chừng nửa giờ và bốn
mươi phút, bạn nghe một tiếng chuông gia trì. Tiếng chuông này được báo trước
bằng một tiếng thức. Tiếng thức là do dùi chuông đặt vào vành chuông mà phát
ra. Đặt vào mà thôi, chứ không thỉnh. Thức như vậy
tức là thức chuông và cũng là để báo hiệu cho đại chúng biết là sẽ có một tiếng
chuông lớn vọng lên. Mỗi lần thỉnh chuông bạn nên thức chuông như thế. Bạn nhớ
rằng đối với đại hồng chung hay chuông bảo chúng thì có tới bảy tiếng
thức chứ không phải là chỉ có một.
Nghe tiếng chuông, bạn biết giờ ngồi thiền đã
hết. Bạn chắp tay thành búp sen để đáp lại tiếng chuông, rồi nhè nhẹ dao động
thân thể qua hai bên, về phía trước, gỡ hai chân ra, và nhè nhẹ xoa bóp cho máu
chảy đều. Bạn có tới một phút hay hơn nữa để làm việc này. Bạn vừa làm vừa theo
dõi hơi thở và ý thức về những động tác của hai tay mình.
Khi nghe một tiếng khánh, bạn đứng dậy, quay mặt
về phía trong đứng ngay ngắn phía sau gối ngồi, sau khi đã vuốt và đặt lại gối
ngồi cho ngay ngắn. Nghe tiếng khánh kế tiếp bạn chắp tay xá người đối diện và
xoay mình nửa vòng, tay phải của bạn về phía chiếc gối ngồi, trong khi hai tay
bạn vẫn chắp thành hình búp sen. Nghe tiếng khánh kế tiếp, bạn bước bước đầu
tiên để đi kinh hành.
Kinh có nghĩa là đi ngang qua và
thu tóm lấy mọi lý nghĩa. Như khi ta đóng sách ta cho một sợi chỉ đi ngang qua
tất cả mọi tờ giấy để gom lại tất cả những tờ giấy ấy không cho rơi rụng tờ
nào. Kinh hành là đi trong chánh niệm; chánh niệm như sợi dây
liên tục đi qua tất cả mọi bước chân, không có bước chân nào đi ra ngoài chánh
niệm. Cũng giống như sợi dây xâu hạt cườm, sợi dây đi qua hết cả mọi hạt nào
rơi rớt ra ngoài. Kinh hành là như thế: duy trì chánh niệm trong từng bước
chân.
Đi Kinh hành trong Thiền đường ta đi chậm rãi,
vững vàng, theo dõi hơi thở, có thể là một bước thở vào. Bạn cũng có thể áp
dụng bài kệ “thở vào tâm tĩnh lặng…” Giữ búp sen của hai bàn tay cho thẳng,
chóp của búp sen hướng về phía trên. Có những truyền thống theo đó người đi
kinh hành nắm tay để trước ngực, tay trái lại trên ngón tay cái và tay phải nắm
lấy tay trái. Theo truyền thống Việt, chúng ta đi kinh hành với hai bàn tay
chấp thành búp sen. Đi như thế đồng thời cũng là đi nhiễu, có nghĩa là đi quanh
Bụt và Tổ để bày tỏ sự cung kính. Đây là do ảnh hưởng của truyền thống Ấn Độ.
Mỗi khi muốn bày tỏ sự cung kính đối với Bụt, các vị đệ tử thường trật vai áo
ra khỏi vai bên phải, chắp tay và đi quanh Phật ba vòng, chiếc vai trần hướng
về phía Bụt.
Đi kinh hành ta cũng duy trì được chánh niệm như
khi ta ngồi thiền và đi như thế làm cho máu huyết lưu thông, và ta có thể ngồi
thiền trở lại. Trong những mùa an cư, ta thực tập kinh hành giữa hai buổi thiền
tọa.
Nghe một tiếng khánh, ta biết là ta đang đi vòng
chót của buổi kinh hành. Khi về đến chỗ ngồi của ta, ta đứng trước gối ngồi, chắp
tay hướng về phía trong. Nghe một tiếng khánh, chúng ta xá rồi hướng về phía
bàn thiền tổ. Ta nghiêng mình xá về phía trước. Đến cửa thiền đường ta hướng về
bàn thiền tổ xá một lần nữa trước khi ra. Trong suốt thời gian này, ta vẫn chăm
chú theo dõi hơi thở và duy trì chánh niệm.
Nếu là buổi thiền tọa sớm, thì ta còn trì tụng
Tâm kinh Bát Nhã trước khi làm lễ thiền tổ và ra khỏi thiền đường. Tâm kinh có
thể được trì tụng khi ta đứng chắp tay đối diện nhau sau giờ kinh hành. Hoặc ta
có thể ngồi xuống gối ngồi, trong trường hợp duy na muốn như vậy.
Trong lúc ngồi thiền, mọi người đều ngồi quay mặt
vào tường. Riêng vị duy na quay mặt vào trong, ngồi trước chuông gia trì. Vị
này có thể nhìn thấy tất cả mọi người cùng tư thế ngồi của họ. Nếu thấy ai ngồi
không đúng phép vị này có bổn phận phải tới chỉ dẫn cho người ấy ngồi lại cho
đúng phép, trước khi thỉnh chuông báo hiệu giây phút khởi sự chính thức của giờ
thiền tọa. Nếu ngồi một vòng quanh bàn thiền tổ (đồ hình 1) không đủ chỗ; thiền
sinh sẽ ngồi hai vòng quanh bàn thiền tổ (đồ hình 2). Trong trường hợp này ta
có hai lối đi kinh hành.
Ngoài ra còn có vị tuần hương với cây trượng giám
hương của vị này. Trong giờ thiền tọa, tuần hương có bổn phận chăm sóc đại
chúng và bảo vệ sự thanh tịnh của giờ thiền tọa. Vị này có thể đứng
hay ngồi trong góc thiền đường, cây trượng giám hương nâng thẳng
trước ngực hoặc để trước mặt. Nếu có thiền giả nào ngồi không nghiêm chỉnh hoặc
đang ngủ gục, vị tuần hương sẽ nhè nhẹ đi từng bước một tới bên người này và
giúp người này ngồi lại cho chỉnh đốn và tỉnh táo. Người tuần hương làm việc
rất im lặng và không dùng cây trượng giám hương để gây nên tiếng động làm động
niệm đại chúng như ở các truyền thống khác.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét