Chia Sẽ Yêu Thương

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chia Sẽ Hạnh Phúc

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Sự Cho Nhận

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2019

Kinh Cứu Khổ Phật Quan Thế Âm

Mình xin được chia sẽ  bài kinh Cứu Khổ nếu Anh Chị Em có bạn bè người thân bị vong linh đi theo xin đọc thường xuyên các vong linh trên sẽ đi tu. Mình có thêm công đức. Xin cảm ơn.
Om Mani Padme Hum: Câu thần chú vi diệu mà Đức Phật mất 1.000 kiếp mới tìm thấy
Om Mani Padme Hum là câu thần chú cổ có nguồn gốc từ Phật giáo Ấn Độ cổ đại, du nhập vào Tây Tạng và trở thành câu thần chú uy quyền nhất trong các câu thần chú Mật Tông.
Nguồn gốc thần chú Om Mani Padme Hum
Trong kinh Đại thừa Trang nghiêm Bảo Vương, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có nói rằng, ngài đã phải mất 1 triệu kiếp mới tìm thấy được câu thần chú này. Ngài nói: “Ta có thể biết một năm có bao nhiêu hạt mưa rơi xuống quả địa cầu, sông Hằng có bao nhiêu hạt cát nhưng ta không thể nói hết về sức mạnh của câu thần chú này.
Kể từ khi Mật Tông Tây Tạng được phát triển tại Việt Nam, câu chú Om Mani Padme Hum trở thành một câu thần chú không thể thiếu trong tâm thức của người theo Mật Tông. Vậy Om Mani Padme Hum có nghĩa là gì, mà sao chỉ cần đọc thầm trong trí óc, đã thấy cảm giác an yên vô cùng.
Đối với các nhà sư Tây Tạng, âm thanh của thần chú này thật vi diệu. Câu thần chú Om Mani Padme Hum là sức mạnh của những lời dạy dỗ của Đức Phật. Khi ta niệm Om Mani Padme Hum có nghĩa là nắm được sức mạnh kỳ diệu của toàn bộ năng lượng và lòng từ bi của đức Phật độ cho mình và cho mọi người. Càng tụng niệm Om Mani Padme Hum bao nhiêu, càng được gia trì thêm bằng những phẩm chất yêu thương của pháp môn niệm Phật. Đây là câu thần chú có năng lượng mạnh mẽ thức tỉnh và kết nối lòng nhân từ trong mỗi người và đức Phật.
Ý nghĩa của Om Mani Pade Hum
Om Mani Padme Hum có nghĩa là Viên ngọc quý trong hoa sen.
Om tượng trưng cho cơ thể của người Phật tử, lời nói và tâm trí, nó cũng tượng trưng cho thân thể, lời nói và trí tuệ của một vị Phật tinh khiết. Con đường được chỉ ra bởi bốn âm tiết kế tiếp.
Từ Om được các nhà sư Tây Tạng sử dụng trong việc thể hiện năng lượng, sức mạnh qua âm tiết Om, bởi đây được coi là lời nói của chư Phật, phản ảnh nhận thức của vũ trụ xung quanh. Âm thanh này có thể vọng qua những đỉnh núi cao của Tây Tạng, qua trời mây vũ trụ với sức mạnh vô hình thể hiện qua tiếng “Om” đầy uy quyền.
Mani, có nghĩa là viên ngọc, tượng trưng cho ý muốn vị tha để trở nên giác ngộ, từ bi và yêu thương. Mani là biểu hiện cho Bồ đề tâm Bodhicitta.
Padme: Từ này có nghĩa là bên trong hoa sen. 2 âm tiết này giúp chúng ta hạn chế nhưng suy nghĩ sai lầm, phát triển năng lực tới một trí tuệ thuần khiết không lẫn tạp chất xấu. Padme có ý nghĩa là Tâm thức con người.
Hum: Có nghĩa là Tự ngã thành tựu. Niệm tới “Hum”, có nghĩa bạn đã có tinh thần giác ngộ. Đạt được những phẩm chất tốt lành, trí tuệ và từ bi.
Câu thần chú này có nghĩa tất cả chúng ta đều là hoa sen, viên ngọc quý trong hoa sen. Chúng ta không biết điều đó cho đến khi gặp và niệm câu thần chú này, tức thì những gì vô minh sẽ bị đẩy lùi, để con người đạt được trí tuệ, từ bi và tinh khiết mạnh mẽ như hoa sen. Om Mani Padme Hum có nghĩ là Tâm Bồ đề nở trong lòng người.
Lợi lạc khi niệm thần chú Om Mani Padme Hum
1. Thần chú Om Mani Padme Hum là hiển lộ của ngôn ngữ và năng lực trí tuệ của tất cả chư Phật. Nó là một phương tiện để bảo vệ tâm khỏi những niệm tưởng mê lầm, chặt đứt vô minh và khai mở trí tuệ. Nó làm tăng trưởng vô lượng sự ban phước và khiến ta có thể đạt được an bình. Thần chú này có thể cứu giúp và làm nguôi dịu hàng trăm và hàng ngàn khổ đau và khốn khó của chúng sinh.
2. Trì tụng Om Mani Padme Hum sẽ xua tan bệnh tật, ốm đau và các thế lực ma quỷ, sẽ trở nên hạnh phúc, an lạc và đầy đủ.
3. Trì tụng câu chú này sẽ tăng cường sức mạnh thiền định và phát triển những cấp độ thiền định sâu sắc hơn trong đời này, thứ sẽ tiếp tục trong nhiều đời tương lai.
4. Trì tụng câu chú này, lúc chết, sẽ không sinh vào ba đọa xứ mà vãng sinh về Dewachen – Tây Phương Cực Lạc hay trong chính cõi Tịnh Độ của Đức Quán Thế Âm – Riwo Potala, và ở đó, sẽ dần dần đạt đến Phật quả. Cho tới lúc đó, ân phước gia trì và sức mạnh của thực hành sẽ không cạn kiệt; nó sẽ tiếp tục tạo ra kết quả giác ngộ.
Khi đức Phật Quán Âm nguyện trở lại vòng luân hồi để giúp chúng sinh khỏi bể khổ, Ngài sử dụng câu thần chú lục tự đại minh chân ngôn Om Mani Padme Hum để giúp chúng sinh khỏi bến mê lầm. Nếu ra niệm câu thần chú này và nghĩ tới đức Phật Quán Thế Âm, trì tụng lục minh chân ngôn, chắc chắn chúng ta sẽ thoát khỏi đau khổ. Do vậy, nên đưa Quán Thế Âm vào tâm thức thật tôn kính, trì tụng Lục tự đại minh rõ ràng và chân thành, mọi nhu cầu thế gian và xuất thế gian sẽ được đáp ứng.
Vậy nên, lợi lạc khi tụng Thần chú Om Mani Padme Hum là không phải nghĩ bàn.













Thứ Ba, 21 tháng 5, 2019

Vượt qua nghịch cảnh

Xét từ đau khổ. Đau là biểu hiện về mặt thể xác, khổ là biểu hiện về phương diện tinh thần. Nỗi đau về mặt thể xác là điều hiển nhiên khi mang tấm thân này, không ai có thể tránh được, nhưng một khi thân xác này chết đi thì nỗi đau đó cũng tiêu mất theo. Trong khi đó khổ mãi không bao giờ mất vì nó là nỗi đau về mặt tinh thần, nếu không chấm dứt được nỗi đau về mặt tinh thần thì thân xác này có chết đi cũng không chấm dứt được khổ và  giải thoát được.  Vả lại, khi nỗi khổ đạt đến mức tột cùng  thì sẽ dẫn đến đau ở thân, tức là tinh thần suy sụp thì thân thể cũng bệnh theo. Ví dụ khi chúng ta nói:" đau lòng quá", thực tế chúng ta quá thương tâm, trong lòng quá buồn đau mới thấy lòng mình quặn lại như bị dao cắt, đau đến không thể chịu được, đấy chính là nỗi đau tinh thần.
Nhưng nếu đau khổ của chung ta có sự đền đáp, chúng ta sẽ được an ủi phần nào; dù có trải qua muôn cay nghìn đắng, chịu đủ nỗi giày vò cũng còn một tia hi vọng là mong có ngày "Khổ tận cam lai". Trường hợp này thì niềm hi vọng vào tương lai thì sẽ không còn khổ nữa, nên khổ không phải là một cảm giác cố định, bất biến. Nó sẽ thay đổi theo hoàn cảnh bên ngoài.
Vì thế, nếu chúng ta chuẩn bị tâm lí tốt, dám làm dám chịu, có dũng khí đối diện với thực tế trước mắt, xử lí tình huống với tâm lí tự tại không lo âu sợ sệt, không trốn tránh, đối diện với những gì đang xảy ra trước mắt, chỉ biết dốc hết sức mình để xoay chuyển tình huống theo chiều hướng tốt theo khả năng cớ thể của mình mà không phải bận tâm nhiều về kết quả của chúng thì chúng ta sẽ không còn cảm thấy khổ đau, không còn bị áp lực tâm lí nữa.

Với những người đã sống với khổ, khi họ đã thoát khổ, nếu bảo họ vào trong đau khổ thì họ cũng không còn cảm thấy sợ khổ nữa, vì họ đã khong còn xem khổ là điều không thể chịu được. Thế nên, một thế giới tiêu cực không thể mang lại cảm giác hạnh phúc mà chỉ có người hiểu khổ một cách tích cực, thể nghiệm khổ, trưởng thành trong khổ mới có khả năng lìa khổ được vui một cách thực thụ. Khi dần dần thoát khỏi đau khổ, đến bờ hạnh phúc, chúng ta mới có thể hiểu được niềm vui trong đau khổ, đấy chính là sự "Diệt khổ" đích thực.
Sưu tâm và tổng hợp.

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2019

KINH THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
太上感 應篇
內容簡介

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN

Người xưa ca tụng đây là một tác phẩm “siêu phàm nhập thánh”, chỉ dạy cho con người “chuyển họa thành phúc”.
Đại sư Ấn Quang trước đây cũng đã sử dụng bài văn nầy trong việc giáo dục môn đồ tu theo Tịnh Độ.
Thực vậy, một người biết thực hành theo lời dạy của “Cảm Ứng Thiên”, chừa bỏ những thói hư tật xấu, cố gắng phát huy những điều thiện, tốt lành đã nêu, Trái lại, không thực hành theo những nội dung của thiên văn chương nầy, dù có chăm chú niệm Phật đến mấy, cũng khó mà đạt được ý nguyện. Cho nên, Tổ Ấn Quang cực lực đề cao bài văn nầy. Ngài quả là bậc trí tuệ lớn, từ bi lớn vậy !
Chúng ta cần phải biết tôn trọng, cảm ơn và y giáo phụng hành theo nội dung Cảm Ứng Thiên, chắc chắn mọi tâm nguyện ở đời đều đạt kết quả mỹ mãn. Đó là cách đền đáp công ơn người xưa hay nhất vậy. 

KHAI KINH

Thái Cực Chân Nhân bảo rằng: Thái Thượng rủ lòng thương mà dạy [người đời] thiên Cảm Ứng này. Mỗi ngày [con người] đọc thuộc một lần thì dứt tuyệt mọi tội lỗi. Thọ trì [hay trì tụng] một tháng thì phúc lộc càng bền. Tụng một năm thì thất tổ siêu thăng [cõi trời]. Trì tụng không bê trễ thì tên [của người tụng] sẽ được ghi vào sổ bộ chư tiên.
ĐIỀU 1

Thái Thượng nói: Họa và phúc không có cửa nẻo [nhất định] mà do con người triệu vời đến cho mình. Sự báo ứng của điều thiện và điều ác [bám sát lấy con người] như cái bóng đi theo thân hình.
ĐIỀU 2

Cho nên trời đất có [đặt ra] các vị thần trông coi tội lỗi của người đời. Căn cứ vào tội nặng nhẹ mà giảm bớt tuổi thọ của họ. Giảm thọ ắt phải nghèo khổ, hao tổn, thường gặp hoạn nạn, sầu khổ. Rồi mọi người đều ghét bỏ kẻ ác.
Hình phạt và tai họa đeo bám theo kẻ ác. Những sự hạnh phúc vui vẻ đều không xảy đến cho họ. Ác tinh [sao chủ về điều ác] gieo tai họa cho họ. Tuổi thọ hết ắt phải chết.
Lại có Thần Tam Thai [coi về tuổi thọ] và Thần Bắc Đẩu [xem xét tội lỗi người đời] ở trên đầu con người và ghi chép tội ác của người đời để trừ bớt tuổi thọ của họ.
Lại có Thần Tam Thi trong thân thể con người, mỗi khi đến ngày Canh Thân tức thì lên thẳng đến Thiên Tào báo cáo tội lỗi người đời.
Đến ngày cuối tháng âm lịch, Táo Quân cũng có phận sự giống như vậy. Người đời tội lớn thì bị giảm thọ 12 năm, lỗi nhỏ thì bị giảm thọ 100 ngày. Tội lỗi lớn nhỏ của con người tính ra có đến hàng mấy trăm. Cho nên muốn sống lâu thì trước tiên phải tránh xa tội lỗi.
ĐIỀU 3
Đường đúng thì đi tới, đường sai thì tránh lui. Không đi đường tắt lối nhỏ sái quấy. Không được khinh thường nhà tối. Phải tích lũy công đức. Phải có lòng từ bi lân mẫn đối với muôn loài. Phải hết lòng với người, có hiếu với cha mẹ, anh em thương nhau. Tự sửa mình rồi hãy dạy người. Thương xót cứu giúp cô nhi và quả phụ. Kính trọng người già và an ủi vỗ về trẻ nhỏ. Không tổn hại côn trùng và cây cỏ. Phải thương hại kẻ ác [vì họ u mê]. Phải vui mừng chia sẻ với người hành thiện. Cứu giúp người bị nguy cấp. Thấy người được [thì vui] như mình được. Thấy người mất mát [thì buồn] như mình mất mát. Không phô bày sự kém cỏi của người. Không khoe khoang cái hay của mình. Ngăn chận người sắp làm điều ác. Biểu dương người làm điều thiện. Khi phải chia chác đồ vật, nhường người phần nhiều và giữ cho mình phần ít. Gặp nhục không oán. Được sủng ái phải sợ. Giúp người chớ mong báo đáp. Cho ai vật gì rồi thì đừng nghĩ lại mà hối tiếc.

ĐIỀU 4
Người [được xem là] thiện lương thì ai ai cũng kính trọng.
Trời giúp đỡ họ.
Phúc lộc đi theo bên họ.
Mọi tà quái tránh xa họ, [vì họ được] thần linh hộ vệ.
Mọi việc họ làm đều thành công.
Họ có thể hy vọng trở thành thần tiên: muốn trở thành thiên tiên thì phải làm 1300 điều thiện, muốn trở thành địa tiên thì phải làm 300 điều thiện.
5.- ĐIỀU 5
Nếu như ai mà hành động những điều phi nghĩa trái đạo lý (như sau đây)…
(1) Lấy thủ đoạn độc ác làm tài năng của mình, 
(2) Nhẫn tâm làm điều tàn ác độc hại, 
(3) Lén hại người lương thiện, 
(4) Thầm khinh cha mẹ, 
(5) Khinh khi thầy dạy, 
(6) Phản bội nơi mình phục vụ, làm việc, 
(7) Lừa bịp người không hiểu biết, 
(8 ) Chê bai bạn học, 
(9) Dối trá lật lọng, công kích họ hàng thân tộc, 
(10) Hung bạo không thương người, 
(11) Tự có những thủ đoạn độc ác, 
(12) Chẳng cần biết đúng sai phải quấy, 
(13) Tráo trở ngược xuôi, 
(14) Bạo ngược đối với kẻ dưới để lập công, 
(15) Nịnh bợ cấp trên, đón ý để trục lợi, 
(16) Nhận ơn ai, chẳng biết cảm động, 
(17) Luôn ôm lòng oán hận không dứt, 
(18) Khinh bỉ Trời và dân chúng, 
(19) Gây rối loạn chính trị trong nước, 
(20) Khen thưởng kẻ phi nghĩa, 
(21) Trừng phạt kẻ vô tội, 
(22) Giết người cướp của, 
(23) Lật đổ người khác để chiếm địa vị của họ, 
(24) Giết kẻ đầu hàng, 
(25) Giáng chức người ngay, bài trừ người hiền, 
(26) Lăng nhục cô nhi, bức hại goá phụ, 
(27) Bỏ qua pháp luật để ăn hối lộ, 
(28) Lấy thẳng làm cong, lấy cong làm thẳng, 
(29) Tội người nhẹ mà làm cho nặng thêm, 
(30) Thấy người khác bị tội chết mà còn oán giận, 
(31) Biết lỗi mà không sửa, 
(32) Biết điều thiện mà không làm, 
(33) Mình có tội, làm liên lụy kẻ khác, 
(34) Cản trở tài năng người khác, 
(35) Chê bai báng bổ thánh hiền, 
(36) Phá hỏng đạo đức, 
(37) Săn bắt chim thú, 
(38) Phá lỗ hang loài vật, làm kinh động chỗ chim đậu, 
(39) Lấp lỗ hang và lật úp tổ chim, 
(40) Phá thai hại trứng, 
(41) Mong cho người khác thất bại, 
(42) Hủy bỏ sự thành công của người khác, 
(43) Làm người khác lâm nguy để cho mình yên ổn, 
(44) Làm người khác hao tốn để cho mình ích lợi, 
(45) Xem điều ác là điều tốt, 
(46) Vì việc riêng tư mà phế bỏ việc công, 
(47) Trộm cắp tài năng của người khác, 
(48) Che lấp việc tốt của người khác, 
(49) Phố bày tướng xấu và điều xấu của người khác, 
(50) Xoi bói chuyện riêng của người khác, 
(51) Làm cho người khác hao tốn tài vật, 
(52) Chia rẽ tình cốt nhục của người khác, 
(53) Xâm phạm tình yêu của người khác, 
(54) Giúp người khác làm điều quấy, 
(55) Phô trương uy quyền cho phỉ lòng, 
(56) Lăng nhục người khác để giành phần thắng, 
(57) Làm thất bại việc cày cấy của người khác, 
(58) Phá hoại hôn nhân của người khác, 
(59) Mới giàu có chút đỉnh đã kiêu căng, 
(60) Chạy tội, không biết xấu hổ, 
(61) Mạo nhận ân huệ, chối biến tội lỗi, 
(62) Gieo họa cho người khác, 
(63) Mua bán danh hão, 
(64) Chất chứa lòng dạ sâu hiểm, 
(65) Ém tài và cản trở tài năng người khác, 
(66) Bảo vệ chỗ non kém của mình, 
(67) Cậy quyền thế bức hiếp người khác, 
(68) Dung túng kẻ bạo ngược để giết hoặc gây thương tích người khác, 
(69) Không có lý do chính đáng mà cắt xén tỉa bỏ vật gì, 
(70) Không có lễ lạc mà giết mổ súc vật, 
(71) Vung vãi bỏ đi ngũ cốc, 
(72) Làm chúng sinh lao nhọc, phiền nhiễu, 
(73) Phá hoại gia cang người khác, 
(74) Giữ lấy tài vật quý báu của người khác, 
(75) Phá đê điều và đốt nhà làm hại dân cư, 
(76) Làm loạn phép tắc để cộng người khác bị thất bại, 
(77) Phá hư dụng cụ, đồ nghề của người khác khiến họ không còn gì để dùng, 
(78) Thấy người vinh hiển phú quý thì mong cho họ bị giáng chức và lưu đày, 
(79) Thấy người giàu có thì mong cho họ hao tán của cải, 
(80) Thấy vợ hay con gái người ta xinh đẹp thì nảy lòng muốn tư thông, 
(81) Thiếu nợ người tiền bạc của cải thì mong cho họ chết, 
(82) Mong cầu địa vị bổng lộc mà không toại nguyện thì sinh lòng oán hận chưởi rủa, 
(83) Thấy người thất lợi thì rêu rao lỗi lầm của họ, 
(84) Thấy người khác hình hài tướng tá không toàn vẹn thì chê cười, 
(85) Thấy người tài giỏi, bề ngoài thì tán dương nhưng trong lòng thì tìm cách đè nén họ.


6.- ĐIỀU 6
(86) Chôn bùa ếm hại người, 
(87) Dùng thuốc để hại cây cối, 
(88) Oán giận thầy dạy chữ và dạy nghề, 
(89) Xung đột với cha và anh, 
(90) Lấy ngang cướp đoạt của ai, 
(91) Thích xâm lấn chiếm đoạt của ai, 
(92) Cướp bóc để trở nên giàu có, 
(93) Xảo trá cầu thăng quan tiến chức, 
(94) Thưởng phạt không công bằng, 
(95) Dâm dật hưởng lạc không kiềm chế, 
(96) Hà khắc ngược đãi thuộc hạ, 
(97) Đe dọa ai làm cho họ phải sợ, 
(98) Oán trời hận người, 
(99) Mắng gió chưởi mưa, 
(100) Tranh đấu kiện tụng, 
(101) Kéo bè kết đảng để làm điều quấy, 
(102) Nghe lời vợ mà không nghe lời dạy của cha mẹ, 
(103) Có mới nới cũ, 
(104) Miệng nói phải, lòng nói trái, 
(105) Tham lam mạo nhận tiền của, 
(106) Khinh thường, khuất lấp đối với bề trên, 
(107) Nói lời ác độc, 
(108) Gièm siểm người khác, 
(109) Hại người, tự cho mình ngay thẳng, 
(110) Chưởi rủa thần thánh, tự xưng mình ngay thẳng, 
(111) Bỏ thuận theo nghịch, 
(112) Phản bội thân thuộc, đi theo người ngoài, 
(113) Chỉ trời chỉ đất để làm chứng cho lòng dạ xấu xa, 
(114) Gọi thần minh chứng giám cho việc quấy, 
(115) Trước tặng cho người, sau hối tiếc, 
(116) Mượn vay không trả, 
(117) Cầu mong quá phận mình, 
(118) Cố hết sức mưu cầu phú quý, 
(119) Dâm dục quá mức, 
(120) Lòng dạ sâu hiểm nhưng bề ngoài ra vẻ hiền lành, 
(121) Đưa thức ăn dơ cho người ăn, 
(122) Dùng bàng môn tả đạo để bịp đời, 
(123) Dùng thước non thước thiếu để đo đạc cho người, 
(124) Cân nhẹ, thăng non, 
(125) Lấy sự gian trá làm hỗn loạn chân lý, 
(126) Tuyển chọn gian lợi, 
(127) Đè nén người lương thiện để họ nghèo mạt, 
(128) Khinh khi gạt gẫm kẻ khờ khạo, 
(129) Tham lam khống biết chán, 
(130) Trước thần linh thề láo cho mình là ngay thẳng, 
(131) Ham nhậu nhẹt quậy phá, 
(132) Anh em ruột thịt giận nhau tranh giành nhau, 
(133) Trai không trung lương, 
(134) Gái không nhu thuận, 
(135) Chồng bỏ bê nhà cửa, 
(136) Vợ không biết trọng chồng, 
(137) Thích kiêu căng khoác lác, 
(138) Thường ganh ghét đố kỵ, 
(139) Chồng không đức hạnh đối với vợ con, 
(140) Vợ không lễ phép với cha mẹ chồng, 
(141) Khinh thường tổ tiên đã khuất, 
(142) Vi phạm mệnh lệnh của bề trên, 
(143) Làm chuyên tầm phào vô ích, 
(144) Âm thầm sinh lòng khác, 
(145) Rủa mình, rủa người, 
(146) Ghét yêu thiên vị, 
(147) Bước qua giếng và bếp lò, 
(148) Nhảy qua thức ăn, nhảy qua thân mình người khác, 
(149) Tổn hại con cái, phá thai, 
(150) Hành vi ám muội, 
(151) Ngày cuối tháng, cuối năm ca múa, 
(152) Ngày đầu tháng đầu năm khóc la giận hờn, 
(153) Day về hướng Bắc khóc, hỉ mũi, khạc nhổ, tiểu tiện, 
(154) Trước ông Táo ngâm vịnh, khóc lóc, hoặc đốt nhang trong bếp lò, 
(155) Củi dơ nấu ăn, 
(156) Đêm tối loã lồ, 
(157) Ngày bát tiết thi hành hình phạt, 
(158) Khạc nhổ về phía sao băng, 
(159) Tay chỉ cầu vồng, 
(160) Thường chỉ trỏ nhật nguyệt tinh, 
(161) Nhìn lâu mặt trời mặt trăng, 
(162) Mùa xuân đốt rừng săn bắn, 
(163) Day về hướng bắc chưởi rủa độc địa, 
(164) Không có lý do mà đánh giết rắn rùa.


7.- ĐIỀU 7
Như những tội ấy, thần Tư Mệnh tùy theo nặng nhẹ mà bớt tuổi thọ của kẻ gây tội. Tuổi thọ hết thì chết, nhưng nếu chết mà chưa hết tội thì con cháu sẽ gánh chịu tai ương. Lại như có kẻ cướp giật ngang ngược tiền tài của người khác thì vợ con và toàn gia đình hắn cũng gánh chịu, dần dần cho đến chết; nếu không chết thì cũng bị tai họa nước lửa hoặc trộm cướp, mất mát đồ vật, tật bệnh, mắc lời ăn tiếng nói, v.v. coi như là cái giá phải trả cho thói cướp giật ngang ngược. Lại có kẻ giết oan người khác rồi đây cũng bị giết trở lại giống như đổi gươm giáo mà giết nhau. Còn kẻ ôm giữ tiền của phi nghĩa, giống như dùng thịt độc và rượu độc để khỏi đói khát, chẳng no lòng tí nào mà cái chết thì cận kề vậy.
8.- ĐIỀU 8
Hễ tâm dấy khởi một điều thiện (thiện niệm) thì tuy điều thiện chưa làm nhưng thiện thần đã đi theo mình rồi. Hoặc tâm dấy khởi một điều ác (ác niệm) thì tuy điều ác chưa làm nhưng ác thần đã đi theo mình rồi.

9.- ĐIỀU 9
Đã từng làm ác mà sau đó tự hối cải, không làm mọi điều ác nữa, (tuân theo luật nhân quả) làm mọi điều thiện. Được thế, lâu ngày ắt có sự tốt lành. Đó gọi là chuyển họa thành phúc vậy.

10.- ĐIỀU 10
Vậy cho nên, người hiền lành nói điều lành, xem điều lành, và làm điều lành. Mỗi ngày làm ba điều lành thì ba năm trời ban phúc cho.

Còn người ác nói điều ác, xem điều ác, và làm điều ác. Mỗi ngày làm ba điều ác thì ba năm trời giáng họa cho.


THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên là một quyển sách khuyến thiện tốt nhất trong kho tàng kinh điển của Đạo gia, được Ngài Đại Sư Ấn Quang hết sức tán thán. Đại Sư Ấn Quang một đời cung kính ấn tống Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, ước khoảng có hơn ba triệu bản. Hơn nữa, Lão Cư sĩ Lý Bỉnh Nam, Lão Pháp sư Tịnh Không cũng đều khích lệ người đời "khuyến đọc, khuyến hành, khuyến in, khuyến giảng".
Quyển sách này cùng với Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh là ba căn bản của Nho - Thích - Đạo, bất luận là ai cũng phải từ ba căn bản này mà học tập vun bồi cội rễ, như thế mới có thể đạt được thành tựu chân thật trong một đời.

ĐẠI SƯ ẤN QUANG KHUYÊN THỌ TRÌ THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN TRỰC GIẢNG
(印光法师太上感篇直)
Tính người vốn thiện, nhưng do đối cảnh gặp duyên, không gắng lòng kiểm soát, dần dần khởi niệm chấp trước, sinh tâm yêu ghét, khởi các loại tình kiến, bản tính bị mai một đều vì những thứ như thế cả. Thế nên, thánh nhân thời xưa rủ lòng thương ban lời dạy dỗ, kỳ vọng người đời theo đó mà làm, nhằm hồi phục cái tâm vốn thiện. Lời dạy tuy có nhiều, nhưng đều không ngoài việc “cách vật trí tri, minh minh đức, chỉ ư chí thiện”.
Thế nào gọi là “cách vật”? “Cách” nghĩa là đánh một trận kịch liệt, ví như một người đương đầu với vạn người vậy. “Vật” là chỉnhững phiền não vọng tưởng, theo thế tục gọi là dục vọng của con người. Người muốn chiến đấu với phiền não vọng tưởng tất phải có ý chí cương quyết, không sợ hãi, thì mới mong có hiệu quả thực sự. Còn như để tâm xoay chuyển theo vật dục, thì sao có thể gọi là “cách vật” được?  Cái gọi là “trí” có nghĩa là mở rộng [tâm lượng] ra đến cùng cực. Còn “tri” chính là cái lương tri biết yêu thương cha mẹ, kính trọng bậc trưởng bối mà con người vốn sẵn có, chứ không phải do dạy, không phải do học mà có. Thông thường con người trong một ngày không thường xuyên kiểm soát phản tỉnh bản thân, để tâm xoay chuyển theo vật dục, đến nỗi đánh mất đi cái lương tri biết yêu thương cha mẹ và kính trọng bậc trưởng bối. Há còn mong mở rộng cái lương tri ấy đến khắp thảy vạn sự vạn vật, hàm dưỡng tự tâm của chính mình ư! Con đường mà Thánh nhân muốn người đời đi để đạt được cái đức sáng, đạt đến chỗ chí thiện, công phu căn bản nhất là phải bắt đầu từ “cách vật trí tri” mà làmKhông có gì diệu dụng hơn công phu này. Nhưng nếu muốn người thường theo đây mà tu trì, thì buộc phải có quy phạm chuẩn mực, mới hòng đạt được lợi ích. Tứ Thư, Ngũ Kinh chính là quy phạm chuẩn mực. Thế nhưng lời dạy trong những sách ấy mênh mông, tản mác, không có điểm hội tụ, khó mà có thể lĩnh hội được pháp. Những người không đọc sách nhiều sẽ càng vì lý do này mà không làm theo Kinh điển.
Sách Thái Thượng Cảm Ứng Thiên hàm nhiếp đầy đủ những lý luận về việc đón kiết, tránh hung, phước thiện, cho đến những đạo lý về mối họa dâm, lời kinh vang vọng đến thượng thiên, chấn động đại địa, hễ đọc đến tâm liền xúc động. Cái gì gọi là thiện? Cái gì gọi là ác? Người làm việc thiện sẽ được thiện báo thế nào? Kẻ làm điều ác sẽ bị ác báo ra sao? Hiểu rõ được căn nguyên rồi, nhìn người sẽ vô cùng thấu suốt. Còn có kẻ ngu không chịu làm thiện, mặc tình làm điều xấu ác, lại dùng cái tâm tự tư tự lợi xem đó là điều hiển nhiên. Ngược lại, nay ta đã biết, những kẻ tự tư tự lợi sẽ bị tổn hại lợi ích rất lớn, rước lấy đại tai ương, há còn dám không khuyến khích nhau làm điều lương thiện để mong thoát họa, gặp phước hay sao? Vì lẽ đó, đây là cuốn sách rất ích lợi cho người đời. Các vị đại Nho thời xưa đa phần đều dựa vào cuốn sách này mà tu hành.
Vào thời nhà Thanh, ở đất Trường Châu, có ông Trạng nguyên Bành Ngưng Chỉ, từ nhỏ đã phụng hành theo sách này, cho đến khi ông làm quan đến chức Thượng Thư rồi mà mỗi ngày cũng đều thọ trì đọc tụng. Ông còn biên ra để tặng cho người khác, lấy tên là “Bộ sách mà Tể Tướng và Trạng Nguyên đều phải đọc”Ông còn chú thích rằng: “Chẳng có nghĩa là đọc sách này có thể làm Trạng Nguyên, Tể Tướng, nhưng m Trạng Nguyên, Tể Tướng nhất quyết không thể không đọc sách này”. Tùy theo cách nhìn của người nhân, kẻ trí, thuận theo căn tính của mỗi người mà phát huy giá trị của sách đến mức thấu triệt. Luận theo lẽ cùng cực của sách, thì sẽ được thành Tiên. Nhưng nếu như dùng tâm đại Bồ-đề mà hành trì thì cũng có thể siêu phàm nhập Thánh, liễu thoát sinh tử, đoạn Tam Hoặc, chứng Pháp Thân, phước huệ viên mãn cho đến thành Phật đạo, huống hồ là quả nhỏ thành thần tiên.
Sách này được chú giải rất nhiều, nhưng chỉ có bản Tiên Chú của Nguyên Hòa Huệ Đống đời Thanh được xem là vô cùng tinh thâm, không phải là bậc hiền sĩ học cao hiểu rộng thì không thể đọc được. Ngoài ra còn có cuốn Vựng Biên, quả thật đây là cuốn sách dành cho người nho nhã lẫn kẻ bình dân, nhưng đối với phụ nữ và trẻ em thì văn từ e khó có thể lĩnh hội. Duy có sách Trực Giảng này có thể đem lại lợi ích cho hết thảyLời văn của sách Trực Giảng này tuy đơn sơ, nhưng cách dùng từ ưu mỹ, đơn sơ nhưng không thô kệch, dễ cảm động lòng người. Cư sĩ Hương Đào đã xuất tiền in ấn, quảng bá, cùng với sự trợ giúp của một vài vị cùng chung chí hướng, nguyện cuốn sách này được phổ biến ra khắp cõi hoàn vũ. Nếu có được vài người tu Thập Thiện, trong nhà vẹn tròn câu hiếu đễ, biết việc họa phúc là do con người tự rước lấy, việc thiện ác đều có báo ứng cả, thì có ai chịu làm ác để rước lấy họa đâu? Nếu nếp sống xã hội đều theo một quy tắc là làm thiện để được thiện báo, thì lễ nhượng sẽ hưng khởi, nhân dân an lạc, thiên hạ thái bìnhvĩnh viễn sẽ không còn nạn can qua (chiến tranh). Nguyện những người có tài lực và trí lực, hoặc in ấn số lượng nhiều để lưu thông, hoặc thuyết pháp diễn giảng, khiến cho những người vẫn chưa mất đi lương tri càng cố gắng giữ lấy cái tâm thuần chân; còn đối với kẻ đã mất đi lương tri rồi sẽ mau chóng khôi phục lại cái tâm sẵn có ấyCông đức ấy kể sao cho xiết!
Năm Mậu Thìn 1928.

KHAI KINH
Thái Thượng dạy rằng
Thiên Cảm Ứng này
Ngày tụng một biến
Diệt tội tiêu khiên

Trì tụng một tháng
Phúc lộc tràn đầy
Hành trì một năm
Thọ mạng dài lâu

Tin làm bảy năm
Thất tổ siêu thăng
Hành trì không mỏi
Dễ thành thánh đạo.


太上寶訓
感應之篇
日誦一遍
滅罪消愆

受持一月
福祿彌堅
行之一年
壽命綿延

信奉七年
七祖昇天
久行不倦
可成聖道
Dịch nghĩa:
Thiên Cảm Ứng này là lời dạy quý báu của Thái Thượng Lão Quân. Mỗi ngày đọc tụng một lần thì dứt tuyệt mọi tội lỗi. Thọ trì (hay trì tụng) một tháng thì phúc lộc càng bền. Tụng một năm thì thất tổ siêu thăng cõi trời. Trì tụng không bê trễ thì lâu dài có thể thành tựu Thánh đạo.

CHƯƠNG 1: MINH NGHĨA
太 上 曰禍 福 無 門 惟 人 自 召善 惡 之 報 如 影 隨 形
Thái Thượng viết:  Họa phúc vô môn, duy nhân tự triệu. Thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình.
Thái Thượng Ngài đã dạy
Họa phúc vốn không cửa
Lòng người chiêu cảm thôi.
Quả báo thiện hay ác
Như bóng theo sát hình
Hình ngay thì bóng thẳng.

CHƯƠNG 2: GIÁM SÁT
是 以天 地 有 司 過 之 神依 人 所 輕 重 以 奪人 算.
Thị dĩ, thiên địa hữu Tư Quá chi Thần, y nhân sở khinh trọng, dĩ đoạt nhân toán.
Trời đất có vị thần
Giám sát về tội lỗi
Tùy tội nặng hay nhẹ
Định thọ mạng ngắn dài.

算 減 則 貧 耗多逢 憂 患人 皆 惡 之刑 禍 隨 之吉 慶 避 之惡 星 災 之算 盡 則 死.
Toán giảm tắc bần hao, đa phùng ưu hoạn, nhân giai ố chi, hình họa tùy chi, cát khánh tị chi, ác tinh tai chi, toán tận tắc tử.
Thọ mạng bị tổn giảm
Ắt gặp cảnh nghèo cùng
Chiêu cảm nhiều hoạn nạn
Sống không thể ung dung.
Người người đều oán ghét
Khó tránh khỏi hình tai
Điều lành liền xa lánh
Sao xấu mang họa đến
Mạng hết chết cận kề.

又 有 三 台 北 斗 神君在 人 頭 上錄 人 罪 惡奪 其 紀 算.
Hựu hữu Tam Thai Bắc Đẩu Thần Quân, tại nhân đầu thượng, lục nhân tội ác, đoạt kỳ kỷ toán.
Lại có thần Tam Thai
Giám sát về tuổi thọ
Cùng Bắc Đẩu thần quân
Chiếu xét tội lỗi người.
Ngự trên đầu thế nhân
Ghi chép hết thảy tội
Mạng theo đó mà giảm
Một kỷ mười hai năm
Một toán cả trăm ngày.

又 有 三 尸 神 在 人身 中每 到 庚 申 日輒 上 詣 天 曹言 人 罪 過.
Hựu hữu Tam Thi Thần tại nhân thân trung, mỗi đáo Canh Thân nhật, triếp thướng nghệ Thiên Tào, ngôn nhân tội quá.
Tam Thi thần trong thân                                                                              
Ngày Canh Thân báo cáo
Tâu Ngọc Hoàng Thượng Đế
Tội lỗi của người đời.

月晦之日灶神亦然.
Nguyệt hối chi nhật, Táo Thần diệc nhiên.
Đến cuối mỗi tháng qua
Táo Quân ngài cũng vậy
Tấu trình tại Thiên Tào
Bẩm báo việc trần gian.

凡人有過大則奪紀小則奪算.
Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán.
Phàm những ai có tội
Nặng trừ mười hai năm
Nhẹ giảm một trăm ngày
Gieo nhân nào quả nấy.

其過大小有數百事欲求長生者先須避之.
Kỳ quá đại tiểu, hữu sổ bách sự. Dục cầu trường sinh giả, tiên tu tỵ chi.
Hết thảy các tội lỗi
Lớn nhỏ hàng mấy trăm
Vì thế muốn sống lâu
Phải tránh xa tội lỗi.

CHƯƠNG 3: TÍCH THIỆN
是道則進非道則退不履邪徑不欺暗室.
Thị đạo tắc tiến, phi đạo tắc thoái. Bất lý tà kính. Bất khi ám thất.
Phàm sự việc ở đời
Hợp với lẽ thì tiến
Trái đạo phải tránh xa.
Đường tà không thể bước.
Dù phòng kín không người
Tà niệm quyết chẳng khởi.

積德累功慈心於物忠孝友悌正己化人.
Tích đức lũy công. Từ tâm ư vật. Trung, hiếu, hữu, đễ. Chính kỷ hóa nhân.
Phải tích công bồi đức
Thương yêu cả muôn loài
Trung thành với tổ quốc
Hiếu thảo với mẹ cha
Anh thương và em kính
Thảy bắt đầu nơi ta
Mình phải làm được trước
Mới mong cảm hóa người.


矜孤恤寡.敬老懷幼昆蟲草木猶不可傷.
Căng cô tuất quả.  Kính lão hoài ấu.  Côn trùng thảo mộc, do bất khả thương.
Cô nhi và quả phụ
Nên cứu giúp xót thương.
Trên kính bậc lão thành
Dưới bảo ban trẻ nhỏ.
Thấy côn trùng cây cỏ
Không tổn hại sát thương.

宜憫人之凶樂人之善濟人之急救人之危.
Nghi mẫn nhân chi hung. Lạc nhân chi thiện. Tế nhân chi cấp. Cứu nhân chi nguy.
Thấy người làm điều ác
Tâm khởi niệm xót thương
Thấy người làm việc lành
Mình sinh tâm hoan hỷ.
Cứu người khi cấp bách
Giúp người lúc khó khăn.

見人之得如己之得見人之失如己之失.
Kiến nhân chi đắc như kỷ chi đắc. Kiến nhân chi thất như kỷ chi thất.
Nhìn thấy người thành công
Vui như mình làm được.
Khi thấy người thất bại
Mình cũng buồn khác chi.

不彰人短不衒己長.
Bất chương nhân đoản, bất huyễn kỷ trường.
Không nên bàn khuyết điểm
Chỗ kém cỏi của người.
Khoe khoang tài năng mình
Đó là việc nên tránh

遏惡揚善推多取少.
Át ác dương thiện. Thôi đa thủ thiểu.
Ngăn chặn người làm ác
Tuyên dương việc thiện lành.
Phần hơn dành cho người
Ít riêng mình giữ lấy.

受辱不怨受寵若驚施恩不求報與人不追悔.
Thụ nhục bất oán. Thụ sủng nhược kinh. Thi ân bất cầu báo. Dữ nhân bất truy hối.
Chịu nhục vẫn không oán
Được người trọng thì lo.
Thi ân không cầu báo
Cho người chớ hối tiếc.

CHƯƠNG 4: THIỆN BÁO
所為善人人皆敬之天道佑之福綠隨之眾邪遠之神靈衛之所作必成神仙可冀.
Sở vị thiện nhân, nhân giai kính chi, thiên đạo hựu chi, phúc lộc tùy chi, chúng tà viễn chi, thần linh vệ chi, sở tác tất thành, thần tiên khả ký.
Người tích đức hành thiện
Mọi người đều kính nể
Trời phù hộ cho họ
Phúc lộc thảy đừng lo
Không cầu mà tự đến.
Tà thần và ác quỷ
Tất sẽ tự tránh xa
Thần linh luôn bảo hộ
Vạn sự ắt vẹn toàn
Cho đến thành Thần Tiên
Mình có thể làm được.

欲求天仙者當立一千三百善欲求地仙者當立三百善.
Dục cầu thiên tiên giả, đươnglập nhất thiên tam bách thiện.
Dục cầu địa tiên giả, đương lập tam bách thiện.
Nếu muốn làm thiên tiên
Nghìn ba trăm điều thiện.
Nếu muốn làm địa tiên
Cần ba trăm việc lành.

CHƯƠNG 5
CHƯ ÁC (PHẦN THƯỢNG)
苟或非義而動背理而形以惡為能忍作殘害陰賊良善
Cẩu hoặc phi nghĩa nhi động, bối lý nhi hành, dĩ ác vi năng, nhẫn tác tàn hại, âm tặc lương thiện.
Ác là việc phi nghĩa
Trái đạo, trái lương tâm
Dùng thủ đoạn độc ác
Cho đó là tài năng.
Nhẫn tâm và tàn bạo
Mưu toan hại người hiền.

暗辱君亲慢其先生叛其所事誑諸無識謗諸同學
Ám vũ quân thân, mạn kỳ tiên sinh, bạn kỳ sở sự, cuống chư vô thức, báng chư đồng học.
Thầm khinh khi cha mẹ
Bất kính với thầy cô
Bất trung với chức phận
Gạt gẫm người ngây ngô
Chê bai bạn đồng học.

虛誣詐偽攻訐宗親剛強不仁狠戾自用是非不當向背乖宜.
Hư vu trá  ngụy,  công  yết  tông  thân,  cương  cường  bất  nhân, ngận  lệ  tự dụng, thị phi bất đang, hướng bối quai nghi.
Xảo trá và hư ngụy
Công kích cả họ hàng
Cang cường, vô nhân đạo
Hiểm ác đến bạo tàn.
Bất chấp lẽ đúng sai
Hành xử không thích đáng.

虐下取功諂上希旨
Ngược hạ thủ công, siểm thượng hy chỉ.
Ngược đãi và cướp công
Của những kẻ dưới quyền
Nịnh hót người bề trên
Đón ý để trục lợi.

受恩不感念怨不休.
Thụ ân bất cảm, niệm oán bất hưu.
Thọ ân không biết cảm
Gặp oán mãi ôm lòng.

輕蔑天民擾亂國政.
Khinh miệt thiên dân, nhiễu loạn quốc chính.
Không vì nước vì dân
Mà sinh tâm khinh miệt
Dựng chuyện làm nhiễu loạn
Nền chính trị nước nhà.

賞及非義刑及無辜殺人取財傾人取位誅降戮服.
Thưởng cập phi nghĩa, hình cập vô cô, sát  nhân  thủ  tài,  khuynh  nhân  thủ  vị,  tru  hàng  lục  phục.
Khen thưởng kẻ phi nghĩa
Trừng phạt người vô can
Giết người hòng đoạt của
Sát hại kẻ đầu hàng
Mưu hại người mất chức
Chiếm đoạt địa vị người.

貶正排賢陵孤逼寡棄法受賂以直為曲以曲為直入輕為重
Biếm chính bài hiền, lăng cô bức quả, khí pháp thọ lộ, dĩ trực vi khúc, dĩ khúc vi trực, nhập khinh vi trọng.
Hãm hại người chính trực
Bài xích người hiền lương
Lăng nhục kẻ cô nhi
Bức hại người góa bụa
Bất chấp các luật lệ
Nhận hối lộ của người
Điều thẳng cho là cong
Cong thì cho là thẳng
Lỗi nhẹ thì xét nặng
Khiến người chịu hàm oan.

見殺加怒知過不改知善不為自罪引他
Kiến sát gia nộ, tri quá bất cải, tri thiện bất vi, tự tội dẫn tha.
Thấy kẻ sắp thụ hình
Không xót còn sân nộ
Biết lỗi vẫn không sửa
Thấy điều thiện chẳng làm
Mình đã mắc tội rồi
Còn liên lụy người khác.

壅塞方術
Ung tắc phương thuật.
Tài năng và pháp hay
Đem lợi ích cho đời
Nếu mình đã học rồi
Nên mau đi truyền bá
Cản trở người truyền bá
Tâm lượng ấy hẹp hòi.

訕謗聖賢侵陵道德
Sán báng thánh hiền, xâm lăng đạo đức.
Phỉ báng bậc Thánh Hiền
Hãm hại người đạo đức.


射飛逐走發蟄驚棲填穴覆巢傷胎破卵
Xạ  phi  trục  tẩu,  phát  trập kinh  thê,  điền  huyệt  phúc  sào,  thương  thai  phá  noãn.
Dùng tên nhọn săn đuổi
Chim, thú thảy kinh hoàng.
Phá nát cả tổ hang
Côn trùng trong gò đất.
Rung cây chim hoảng sợ
Không còn chỗ tựa nương.
Nhẫn tâm lấp ổ hang
Tổ chim bị lật úp
Phá thai và hại trứng
Còn tội ác nào hơn.

願人有失毀人成功
Nguyện nhân hữu thất, hủy nhân thành công.
Mong nhìn thấy khuyết điểm
Và thất bại của người
Nhìn thấy việc sắp thành
Tìm mọi cách hủy hoại.

危人自安減人自益
Nguy nhân tự an, giảm nhân tự ích.
Hại người khác lâm nguy
Để cho mình an ổn
Khiến người khác hao tốn
Hòng trục lợi cho mình.

以惡易好
Dĩ ác dịch hảo
Mua bán trao đổi hàng
Đem xấu tráo cái tốt.

以私廢公
Dĩ tư phế công.
Vì ân oán riêng tư
Phế bỏ điều công đạo.

竊人之能蔽人之善
Thiết nhân chi năng, tế nhân chi thiện.
Tài năng của người khác
Trộm lấy làm của mình
Còn thiện hạnh của người
Tìm mọi cách dìm lấp.

形人之醜訐人之私
Hình nhân chi xú, kiết nhân chi tư.
Thấy người có điều xấu
Phô bày và rêu rao
Việc riêng tư của người
Bới móc rồi truyền rao.

耗人貨財
Hao nhân hóa tài
Tài vật của người khác
Làm phung phí tiêu hao.
離人骨肉
Ly nhân cốt nhục.
Phá hoại tình cốt nhục
Làm người thân chia ly
Tương tàn hay bất hòa
Đó là điều cực ác.

侵人所愛
Xâm nhân sở ái.
Đồ vật người yêu quý
Nghĩ mọi cách đoạt xâm
Chiếm làm của riêng mình
Nào khác gì cường đạo.

助人為非逞志作威辱人求勝
Trợ nhân vi phi, sính chí tác oai, nhục nhân cầu thắng.
Thấy kẻ làm bất chính
Còn giúp sức một tay.
Gặp được thời vận may
Mặc tình làm mưa gió
Hủy nhục người để mong
Phần thắng cho riêng mình.

敗人苗稼
Bại nhân miêu giá.
Người nông phu cực khổ
Cây lúa mới trổ bông
Không biết tiếc công trồng
Còn sinh tâm phá hoại.

破人婚姻
Phá nhân hôn nhân.
Hôn nhân, duyên đã định
Vì tham sắc, tư thù
Chiếm đoạt hoặc chia ly
Trời không dung việc ấy.

苟富而驕
Cẩu phú nhi kiêu.
Kẻ tiểu nhân mới phất
Vội nghênh mặt với người
Việc làm thiếu lễ này
Là điềm làm tổn phước.

苟免無恥
Cẩu miễn vô sỉ.
Kẻ mắc lỗi phạm tội
May mắn được thoát thân
Không một chút ăn năn
Vẫn chứng nào tật nấy.

認恩推過嫁禍賣惡
Nhận ân thôi quá, giá họa mại ác.
Ân đức người bố thí
Mạo nhận làm của mình
Mình làm chuyện bất lương
Thì gán cho người khác.

沽買虛譽
Cô mãi hư dự.
Năng lực vốn không có
Dùng tiền bạc để mua
Vô sỉ cầu hư danh
Còn mong người tán thưởng.

包貯險心
Bao trữ hiểm tâm.
Lòng người vốn nham hiểm
Mặt tỏ vẻ thiện lương
Nụ cười nở trên môi
Dao sắc giấu trong lòng.

挫人所長護己所短
Tỏa nhân sở trường, hộ kỷ sở đoản.
Đối với người tài năng
Mình chủ tâm mai một
Cái dở của bản thân
Trăm phương nghìn cách giấu.

乘威迫脅縱暴殺傷
Thừa oai bách hiếp, túng bạo sát thương.
Lợi dụng thế lực lớn
Ức hiếp đày đọa người
Dung túng kẻ ác nhân
Tổn hại người vô tội.

無故剪裁
Vô cố tiễn tài.
Áo quần dùng che thân
Công người may vất vả
Mặc rách thì nên vá
Chớ lãng phí xa hoa.

非禮烹宰
Phi lễ phanh tể.                                            
Loài vật có sinh mạng
Cũng trân quý như mình
Trời có đức hiếu sinh
Ta mặc tình nung nấu.

散棄五穀
Tán khí ngũ cốc.
Thời xưa đấng thiên tử
Còn tự mình canh nông
Nay ngũ cốc gieo trồng
Ta nỡ nào lãng phí.

勞擾眾生
Lao nhiễu chúng sinh.
Những công trình kiến trúc
Đừng lao dịch nhân dân
Xây cung điện nguy nga
Riêng mình vui hưởng lấy.

破人之家取其財寶
Phá nhân chi gia, thủ kỳ tài bảo.
Giàu nghèo vốn sẵn mệnh
Của phi nghĩa giàu đâu
Tham tài mưu hại người
Di họa đến đời sau.

決水放火以害民居
Quyết thủy phóng hỏa, dĩ hại dân cư.
Thủy tai cùng hỏa tai
Người dân ai cũng sợ
Hiểu được điều này rồi
Không phóng hỏa đốt nhà.
Đê điều xin chớ phá.

紊亂規模以敗人功
Vặn loạn qui mô dĩ bại nhân công.
Sự nghiệp người gây dựng
Vốn đã sẵn quy mô
Gây rối loạn nhiễu nhương
Mong công người sụp đổ.

損人器物以窮人用
Tổn nhân khí vật dĩ cùng nhân dụng.
Phá hỏng các công cụ
Khiến người không thể dùng
Tâm địa nhỏ nhen ấy
Trời đất ắt khó dung.

見他榮貴願他流貶見他富有願他破散
Kiến tha vinh quý nguyện tha lưu biếm, kiến tha phú hữu nguyện tha phá tán.
Nhìn thấy người vinh hiển
Mong cho bị lưu đày
Nhìn thấy người giàu sang       
Cầu mong cho tàn mạt
Nào đâu hay phước báo
Do tu tích khi xưa
Không làm thiện đời này
Đời sau làm sao hưởng?

見他色美起心私之
Kiến tha sắc mỹ khởi tâm tư chi.
Nhìn thấy người nhan sắc
Tâm ắt khởi lòng tà
Cổ nhân đã dạy ta
Vạn ác dâm số một
Thế nên phải cẩn trọng.
Ngay ở chỗ không người
Khởi một niệm tà thôi
Quỷ thần đều biết rõ.
Phòng sắc như phòng cọp
Ấy đáng bậc trượng phu.

負他貨財願他身死
Phụ tha hóa tài nguyện tha thân tử.
Lúc mình gặp khó khăn
Mượn tài vật của người
Đến lúc khấm khá rồi
Khởi tâm tham không trả.
Bởi không tin nhân quả
Mong người chóng chết đi
Nào biết có luân hồi
Làm trâu bò trả nợ.

干求不遂便生咒恨
Can cầu bất toại tiện sinh chú hận.
Bậc chí nhân quân tử
Tâm ít muốn không cầu
Vui với thú thanh tao
Không oán nên thường lạc.
Kẻ tiểu nhân bạc ác
Tâm đa dục đa cầu
Nếu không thỏa tham cầu
Trở mặt sinh lòng oán.

見他失便便說他過
Kiến tha thất tiện tiện thuyết tha quá.
Thế gian ai hoàn mỹ
Không mắc lỗi phạm sai
Thấy chỗ người kém khuyết
Chớ chỉ trích vội vàng
Trước hãy nên phản tỉnh
Mình từng phạm lỗi chưa
Dùng lòng tha thứ mình
Mà khoan dung người khác.

見他體相不具而笑之
Kiến tha thể tướng bất cụ nhi tiếu chi.
Xem thấy người lùn xấu
Tướng mạo chẳng vẹn toàn
Khiếm khuyết hết ngũ quan
Phải sinh tâm thương xót.
Bằng chế giễu nhạo báng
Cười cũng chẳng được lâu
Đời này và đời sau
Gieo nhân gì quả đó.

見他才能可稱而抑之
Kiến tha tài năng khả xưng nhi ức chi.
Thấy người có tài năng
Không sinh tâm hoan hỷ
Ngược lại còn đố kỵ
Mưu kế đè ép người
Tài năng ấy chôn vùi
Không được ra thi thố.

CHƯƠNG 6
CHƯ ÁC (PHẦN HẠ)

埋蠱厭人
Mai cổ yếm nhân
Dùng bùa ngải tà thuật
Yểm chú hãm hại người
Tội nghiệt ấy tày trời
Đời sau đọa địa ngục.

用藥殺樹
Dụng dược sát thụ.
Thực vật như động vật
Đều cũng có tánh linh
Ta phải biết yêu thương
Không mặc tình dẫm đạp.
Trăm năm cây cổ thụ
Hấp tinh hoa đất trời
Phun thuốc diệt cây rồi
Tâm từ bị tổn mất.

恚怒師傅
Khuể nộ sư phó.
Với lời thầy răn dạy
Không cung kính tiếp thu
Mà giận quá hóa thù
Đấy là phường bất tiếu[1].

抵觸父兄
Để xúc phụ huynh.
Bất hiếu với cha mẹ
Xung đột với người trên
Ngỗ nghịch chẳng nể tình
Người trời đều trừng phạt.

強取強求.
Cưỡng thủ cưỡng cầu.
Tâm ỷ mạnh hiếp yếu
Cưỡng đoạt tài vật người.
Bất chấp lý và tình
Chính là phường cướp bóc.

好侵好奪擄掠致富
Háo xâm háo đoạt, lỗ lược trí phú.
Kẻ tham danh hám lợi
Chỉ muốn đoạt của người
Để có được giàu sang
Cướp người hòng đoạt của.

巧詐求遷賞罰不平
Xảo trá cầu thiên, thưởng phạt bất bình.
Dùng thủ đoạn xảo trá
Mong thăng tiến chức quan
Khi được tước vọng rồi
Thưởng phạt không công chính.

逸樂過節
Dật lạc quá tiết.
Phóng dật và hưởng lạc
Quá độ sẽ sinh bi
Lộc tận thì nhân vong
Phước chớ nên hưởng hết.

荷虐其下
Hà ngược kỳ hạ.
Đối người hầu, cấp dưới
Chớ ngược đãi bạo hành
Lời ân cần khuyên dạy
Họ không dễ phản mình.

恐嚇於他
Khủng hách ư tha.
Người gặp lúc sợ lo
Ta an ủi vỗ về
Chớ thừa cơ khủng bố
Nhân đức thảy còn đâu!

怨天尤人
Oán thiên vưu nhân.
Gặp việc không như ý
Chớ oán trời trách người
Phước phận mỏng nơi mình
Do nhân xưa đã tạo.

呵風罵雨
Ha phong mạ vũ.
Tiết trời xấu hoặc tốt
Mưa thuận hay gió hòa
Ắt do ở tâm ta
Chớ oán mưa giận gió.

鬥合爭訟
Đấu hợp tranh tụng.
Gây tạo chuyện thị phi[2]
Để hai bên thưa kiện
Mình đứng giữa trục lợi
Trời cao ắt khó dung.

妄逐朋黨
Vọng trục bằng đảng.
Mưu mô lập băng đảng
Mong nước loạn tranh quyền
Đâu hay xã tắc biến
Nhà mình cũng chẳng yên.

用妻妾語違父母訓
Dụng thê thiếp ngữ vi phụ mẫu huấn.
Nghe lời của thê thiếp
Như mật ngọt rót tai
Lời cha mẹ dạy ta
Lại mặc tình làm trái
Phận làm con lỗi đạo
Sao tránh khỏi tai ương!


得新忘故
Đắc tân vong cố.
Bạn hữu thuở hàn vi
Giữ vẹn tình sau trước
Nghĩa tào khang chung thủy
Có trăng chớ quên đèn.

口是心非
Khẩu thị tâm phi.
Quân tử và tiểu nhân
Hình dung tuy chẳng khác
Khác ở chỗ dụng tâm
Quang minh hay ám muội.
Người quân tử chính trực
Lời nói để lợi người
Miệng Phật mang tâm xà
Là tiểu nhân gian ác.

貪冒於財欺罔其上
Tham mạo ư tài, khi võng kỳ thượng.
Thân làm quan phụ mẫu
Bóc lột nhũng nhiễu dân
Dối gạt đến quân vương
Lưới trời e khó thoát.

造作惡語
Tạo tác ác ngữ.
Miệng người dễ phạm lỗi
Ác khẩu bịa đặt lời
Lưỡi ác nghiệt hại người
Không xương như dao sắc.

讒毀平人毀人稱直罵神稱正,
Sàm hủy bình nhân, hủy nhân xưng trực, mạ thần xưng chính.
Hủy báng và hại người
Lại cho mình chính trực.
Mạo phạm cả thần linh
Tự nhận mình ngay thẳng.

棄順效逆背親向疏
Khí thuận hiệu nghịch, bối thân hướng sơ.
Bỏ thuận đi theo nghịch
Trái đạo lý luân thường
Cốt nhục chẳng hề thương
Với người thì hậu hỹ.

指天地以證鄙懷引神明而鑒猥事.
Chỉ thiên địa dĩ chứng bỉ hoài, dẫn thần minh nhi giám ổi sự.
Tâm tính chuyện trái, sai
Thân làm chuyện tồi tệ
Còn cầu trời và thần
Chứng giám cho việc đó.
Đã ôm lòng bất chính
Đất trời nào chứng cho.
施與後悔假借不還
Thí dữ hậu hối, giả tá bất hoàn.
Bố thí cho người rồi
Lòng lại sinh hối hận.
Mượn tài vật không trả
Đời sau đội sừng đền.

分外營求力上施設
Phận ngoại doanh cầu, lực thượng thi thiết.
Người không biết an phận
Hướng ngoại vọng tâm cầu
Đâu hay vạn pháp kia
Thảy đều do tâm tạo.

淫欲過度
Dâm dục quá độ.
Kẻ dâm dục quá độ
Tinh khí thảy đều suy
Sinh con ra ngu đần
Còn tổn thương âm đức.

心毒貌慈
Tâm độc mạo từ.
Lòng dạ vốn nham hiểm
Ngoài mặt giả hiền từ
Khác nào loài hổ lang
Độc thua gì rắn rết.

穢食餧人
Uế thực ủy nhân.
Thức ăn không tinh sạch
Gây mầm bệnh cho người
Nếu tặng hoặc bán đi
Hại người mình tổn đức.

左道惑眾
Tả đạo hoặc chúng.
Dùng bàng môn tà đạo
Yêu thuật mê hoặc người
Luật trời ắt khó dung
Chết đọa ba đường khổ.

短尺狹度輕秤小升以偽雜真採取姦利
Đoản xích hiệp độ, khinh xứng tiểu thăng. Dĩ ngụy tạp chân, thải thủ gian lợi.
Kẻ buôn gian bán thiếu
Làm hàng giả gạt người
Tạm chiếm tiện nghi thôi
Âm Ty định sẵn tội.

壓良為賤謾驀愚人
Áp lương vi tiện, mạn mạch ngu nhân.
Ép bức người lương thiện
Làm kỹ nữ thanh lâu
Dùng kế hiểm mưu sâu
Lừa người dân khờ khạo.
Tội ấy trái thiên đạo
Chết nào thoát ba đường.

貪婪無厭
Tham lam vô yếm.
Dục vốn là hố sâu
Kẻ tham không biết chán
Tội lớn bởi nhiều dục
Họa lớn do đa cầu.

咒詛求直
Chú trớ cầu trực.
Chứng minh mình vô tội
Cầu phần thắng cho mình
Đối trước đấng thần minh
Thề láo mình ngay thẳng.

嗜酒悖亂
Thị tửu bội loạn.
Đức Phật chế năm giới
Rượu là giới sau cùng
Người ham mê rượu thịt
Khó tránh sát, đạo, dâm.

骨肉忿爭
Cốt nhục phẫn tranh.
Huynh đệ như tay chân
Gà cùng chung một mẹ
Môi hở thì răng lạnh
Sao nỡ giận, tranh nhau!

男不忠良,女不柔順,不和其室,不敬其夫
Nam bất trung lương, nữ bất nhu thuận, bất hòa kỳ thất, bất kính kỳ phu.
Trai bất trung bất nghĩa
Gái chẳng kính thuận chồng
Gia đình không hòa khí
Gia đạo chẳng thể hưng!

每好矜誇,常行妒忌
Mỗi háo căng khoa, thuờng hành đố kỵ.
Quẻ Khiêm trong Kinh Dịch
Sáu hào đều cát tường
Người kiêu căng, đố kỵ
Không phải bậc hiền lương.

無行於妻子,失禮於舅姑
Vô hạnh ư thê tử, thất lễ ư cữu cô.
Làm chồng thiếu đức hạnh
Phụ bạc nghĩa vợ chồng
Làm vợ lại vô nghì
Cha mẹ chồng chẳng kính.

輕慢先靈
Khinh mạn tiên linh.
Khâm liệm không như lễ
Cúng tế chẳng chí thành
Tổ tiên dù đã khuất
Anh linh vẫn thường quanh.

違逆上命
Vi nghịch thượng mệnh.
Lệnh của mẹ cha ban
Cùng lời thầy cô dạy
Là muốn ta nên người
Tránh không làm nghịch ý.

作為無益
Tác vi vô ích.
Đời người vốn ngắn tạm
Nên biết việc cần làm
Sống làm điều vô ích
Uổng một kiếp nhân gian.

懷挾外心
Hoài hiệp ngoại tâm.
Đã ôm lòng dối gạt
Đâu cần đợi thân làm
Vừa khởi tâm động niệm
Tội đã ghi rõ ràng.

自咒咒他
Tự chú chú tha.
Thường tự mình thề thốt
Nguyền mình và rủa người
Dù thọ mạng chưa hết.
Ác báo sắp đến rồi.

偏憎偏愛
Thiên tăng thiên ái.
Nếu có lòng thiên lệch
Yêu ghét chẳng công bằng
Dễ tạo sai lầm lớn
Bất hòa với người thân.  

越井越灶跳食跳人
Việt tỉnh việt táo, khiêu thực khiêu nhân.
Không bước qua giếng, bếp.
Giếng vốn có vị Thần
Bếp có ngài Táo Quân
Xin chớ có mạn khinh.
Với thức ăn cũng vậy
Không thể dẫm đạp lên
Thân hình người cũng thế
Chân không đặt lên trên.

損子墮胎
Tổn tử đọa thai.
Hổ lang tuy hung dữ
Chẳng ăn thịt con mình
Phá thai và giết trẻ
Cốt nhục chớ đoạn tình.

行多隱僻
Hành đa ẩn tích.
Gian trá và tà dâm
Là hành vi ám muội
Dù làm trong phòng tối
Mắt Thần vẫn sáng soi.

晦臘歌舞
Hối lạp ca vũ.
Cuối tháng và Ngũ Lạp[3]
Thiên Thần kiểm lỗi lầm
Dương gian nên tránh việc
Ca múa động nhân tâm.

朔旦號怒
Sóc đán hào nộ.
Than khóc và phẫn nộ
Vốn là việc không nên
Tránh đầu tháng đầu năm
Hoặc bình minh buổi sớm.

對北涕唾及溺
Đối bắc thế thóa cập niệu.
Hướng Bắc có sao Đẩu
Nơi ngự của thần linh
Chớ hướng về phương này
Khạc nhổ, đại tiểu tiện.

對灶吟詠及哭又以灶火燒香穢柴作食
Đối táo ngâm vịnh cập khốc, hựu dĩ táo hỏa thiêu hương, uế sài tác thực.
Bếp nhà có TáoThần
Giám sát tội lỗi người
Không khóc, vịnh, xướng ca
Đốt hương trên bếp lửa
Củi bẩn không tinh khiết
Không được dùng nấu ăn.

夜起裸露
Dạ khởi lõa lộ
Thần Dạ Du ban đêm
Đi tuần tra khảo sát
Ăn mặc phải kín đáo
Ngủ không để lõa lồ.

八節行刑
Bát tiết hành hình.
Vào những ngày Bát Tiết[4]
Trai giới, chuyên làm lành
Tránh không được hành hình
Và tạo thêm nghiệp sát.

唾流星指紅霓輒指三光久視日月
Thóa lưu tinh, chỉ hồng nghê, triếp chỉ tam quang, cửu thị nhật nguyệt.
Trong vũ trụ bao la
Đều có thần cai quản
Tỏ lòng thành cung kính
Tránh làm các việc sau:
Khạc nhổ hướng sao băng
Tay chỉ trỏ cầu vồng
Chỉ nhật, nguyệt, tinh tú
Chăm chú nhìn mặt trăng.

春月燎獵
Xuân nguyệt liệu liệp.
Xuân về vạn vật sinh
Kiêng tránh việc đốt rừng
Săn bắn là tội ác
Hại muôn loài sinh linh.

對北惡罵
Đối bắc ác mạ.
Tâm có điều phẫn nộ
Phát tiết thóa mạ người
Hướng phương Bắc trút giận
Thần Bắc Đẩu trên trời.

無故殺龜打蛇
Cô cố sát quy đả xà.
Chớ vô duyên vô cớ
Giết hại rắn và rùa
Sinh mạng phải trân quý
Cẩn trọng chớ sát thương.

CHƯƠNG 7: ÁC BÁO
如是等罪司命隨其輕重奪其紀算.
Như  thị  đẳng  tội,  Tư Mệnh tùy  kỳ  khinh  trọng,  đoạt  kỳ  kỷ  toán.
Những việc ác kể trên
Tùy tội nặng hay nhẹ
Tư Mệnh Thần định đoạt
Phán thọ mạng ngắn dài.

算盡則死死有餘責乃殃及子孫.
Toán tận tắc tử. Tử hữu dư trái, nãi ương cập tử tôn.
Cái chết đã gần kề
Tội kia chưa trả hết
Thì sẽ di hại đến
Con cháu ở đời sau.

又諸橫取人財者乃計其妻子家口以當之漸至死喪
Hựu chư hoạnh thủ nhân tài giả, nãi kế kỳ thê tử gia khẩu dĩ đương chi, tiệm chí tử táng.
Dùng thế lực áp bức
Đoạt tài sản của người
Thì thân gia quyến thuộc
Cũng chịu chung ác báo
Cho đến chết mới thôi.

若不死喪則有水火盜賊遺忘器物疾病口舌諸事,以當妄取之直.
Nhược bất tử táng, tắc hữu thuỷ hỏa đạo tặc, di vong khí  vật,  tật  bệnh,  khẩu  thiệt  chư  sự, dĩ  đương  vọng  thủ  chi  trực.
Nếu thọ mạng chưa hết
Sẽ gặp lũ, hỏa tai
Trộm cướp và bệnh tật
Tai tiếng và kiện thưa.
Xưa hại người nửa cân
Giờ phải đền tám lạng.[5]

又枉殺人者是易刀兵而相殺也
Hựu uổng sát nhân giả, thị dịch đao binh nhi tương sát dã.
Giết oan mạng người khác
Sẽ cảm họa binh đao
Nhân-quả vốn tơ hào
Không mảy may sai chạy.

取非義之財者譬如漏脯救饑鴆酒止渴非不暫飽死亦及之.
Thủ phi nghĩa chi tài giả, thí như lậu bô cứu cơ, trấm tửu chỉ khát, phi bất tạm bão, tử diệc cập chi.
Đoạt tiền tài phi nghĩa
Như ăn thịt độc vào
Uống rượu độc giải khát
Ác nghiệp tránh khỏi sao!
No nê đâu chẳng thấy
Thần chết đến sẵn rồi.

CHƯƠNG 8
CHỈ VI (CHỈ RA Ý NGHĨA TINH THÂM VI DIỆU)
夫心起於善善雖未為而吉神已隨之或心起於惡惡雖未為而凶神已隨之.
Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi nhi cát thần dĩ tùy chi. Hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi nhi hung thần dĩ tùy chi.
Tâm vừa khởi niệm thiện
Dù việc vẫn chưa làm
Thần Kiết Tường đã thấy
Bảo hộ ở kề bên.
Vừa chớm khởi niệm ác
Dù việc ác chưa làm
Hung thần đã theo bên
Họa hại sẽ liền đến.

CHƯƠNG 9: SÁM HỐI TỘI LỖI
其有曾行惡事後自改悔諸惡莫作眾善奉行久久必獲吉慶所謂轉禍為福也.
Kỳ hữu tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, cửu cửu tất hoạch cát khánh, sở vị chuyển họa vi phúc dã.
Từng làm việc sai trái
Sau biết tự ăn năn
Không còn gieo nhân ác
Thiện hạnh ngày mỗi tăng.
Lâu dần việc thiện nhỏ
Sẽ chứa đầy chum to
Việc cát tường như ý
Ắt sẽ đến không lo.
Họa chuyển dần thành phúc
Từ sám hối mà ra.


CHƯƠNG 10: GIỚI ĐỊNH
故吉人語善視善行善一日有三善三年天必降之福凶人語惡視惡行惡一日行三惡三年天必降之禍胡不勉而行之.
Cố cát nhân ngữ thiện, thị thiện, hành thiện, nhất nhật hữu tam thiện, tam niên thiên tất giáng chi phúc. Hung nhân ngữ ác, thị ác, hành ác, nhất nhật hành tam ác, tam niên thiên tất giáng chi họa. Hồ bất miễn nhi hành chi.
Hiền nam tử, nữ nhân
Mỗi ngày miệng, mắt, thân
Đều là thiện không khác
Ba năm như một ngày
Trời sẽ ban phúc báu.

Kẻ nói, nhìn, làm ác
Trong thời gian ba năm
Một ngày tạo ba nghiệp
Trời sẽ giáng họa tai.

Rõ ràng việc họa phúc
Do chính mình gây nên
Thấu rõ đạo lý trên
Nên hành Thiên Cảm Ứng.


[1] Bất tiếu: hư hỏng, đáng chê trách.
[2] Chuyện thị phi: chuyện phải quấy
[3] Ngũ Lạp bao gồm: Ngày mồng Một tháng Giêng gọi Thiên Lạp, mồng Năm tháng Năm là Địa Lạp (tiết Đoan Ngọ), mồng Bảy tháng Bảy là Đạo Đức Lạp, mồng Một tháng Mười là Tuế Lạp (Dân Tuế Lạp), mồng Tám tháng Chạp là Hầu Vương (Vương Hầu) Lạp.
[4] Bát tiết là những ngày lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập thu, thu phân, lập đông, đông chí.

[5] Ý nói nhân quả công bằng, tơ hào chẳng sai. Nửa cân của người xưa tương đương với 8 lạng (một cân là 16 lạng).